Bảo tồn thiên nhiên » Động vật » Chi tiết loài

Tên việt nam: Cây Muối

Tên khoa học: Rhus Chinensis Mill (Rhus javanica L., R. semialata Murr.)

Cấp bậc sinh giới

Ngành: Thực vật

Bộ: Sapindales (tên khoa học là Sapindales)

Họ: HỌ ĐÀO LỘN HỘT (tên khoa học là ANACARDIACEAE)

Thuộc: Sách đỏ

Tình trạng bảo tồn: Tuyệt chủng (EX)

Công dụng: Lỵ, Tiêu hóa, Tiêu chảy, đau bụng

Đặc điểm nhận dạng:

Loài R. Chinensis

Tên khác Diêm phu mộc, Ngũ bội tử thụ, Cây muối, Dã sơn, Sơn bút, Chu môi

Mô tả: Cây bụi hay cây gỗ, cao 4-10m. Lá kép mọc so le. Lá chét khía răng ; phiến lổ khổ dai ; cuống lá hình trụ, có cánh nhiều hay ít. Hoa màu trắng, họp thành chùy rộng, nhiều nhánh.

Ra hoa quả tháng 6-10.

Quả hạch gần hình tròn, phủ lông ngắn, màu đỏ. về mùa hè, trên chùm quả thường phủ một lớp màu trắng như muối, có vị mặn nhưng chua. có quả chín tháng 10 tới tháng Giêng.

Bộ phận dùng: Rễ, lá và nốt lồi ở lá.

Phân bố sinh thái: Cây của lục địa Đông Nam Á châu, mọc hoang ờ vùng rừng Bảy Núi, sống ven đường, nơi đất hơi ẩm.

Trên cuống lá và cành cây muối, thường có những nốt dài 3-6cm, do ấu trùng của sâu Schlechtendalia chinensis gây ra. Trong nốt có nhiều tanin nên được dùng để nhuộm, chế mực viết hay làm thuốc thu liễm (gọi là Ngũ bội tử). Thu hái ngũ bội tử vào mùa thu, hấp nước sả 3-5 phút rồi phơi khô hoặc hơ nóng trong lửa để diệt sâu rồi phơi hay sấy khô. Rễ thu hái quanh năm. Lá thu hái vào hạ thu.

Tính chất và tác dụng: Rễ có vi chua và mặn, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiều, hóa đờm, tiêu ứ, cầm máu. Ngũ bội tử có vị chua và chát, tính bình, có tác dụng làm săn da, cầm ỉa chảy, chống ho, cầm máu, làm ngưng toát mồ hôi.

Công dụng: Rễ muối dùng trị cảm mạo phát sốt, viêm khí quản mãn tính, ho, ho ra máu, viêm ruột, lỵ, trĩ chảy máu, bệnh về mạch vành, viêm gan, phù thũng. Dùng 15-60g, dạng thuốc sắc. vỏ rễ dùng ngoài trị đòn ngã tổn thương, rắn cắn, dị ứng sơn. Giã câv tươi đắp hay đun sôi lấy nước rửa. Rễ cây này đem đun sôi lấy nước cho thêm đường đỏ vào để uống là phương thuốc dân gian kinh nghiệm chữa sốt rét. Ngũ bội tử dùng tri lỵ ra máu và ỉa chảy mãn tính, ho mãn tính, di mộng tinh, trĩ ra máu, đại tiện ra máu, sa trực tràng, chảy máu. Dùng 30g, dạng thuốc sắc. Dùng bôi ngoài trị bỏng và khỏi đau nhức, lại có tác dụng diệt khuẩn. Có thể chữa thấp chấn, ghẻ ngứa.

Lá sắc đặc ngậm dùng rút mủ chân răng. Quả có thề dùng ngoài nấu nước rửa mụn nhọt, ghẻ lở. vỏ cây cũng dùng được như thế.

Đơn thuốc :

- ỉa chảy, lỵ ra máu, băng huyết : 2-4g ngũ bội tử tán bột uống hoặc sắc uống. Có thể phối hợp với rễ vú bò và vỏ cây máu chó.

- Lòi dom, lở loét, vết thương : Rửa bằng dung dịch 5-10% ngũ bội tử.

- Viêm chân răng có mủ : Cành lá cây muối nấu nước đặc ngậm.

Tình trạng khai thác và bảo vệ tại An Giang: Hiện nay loài cây này rất hiếm gặp trên vùng núi. Cần bảo vệ để mở rộng quần thể.

Bành Thanh Hùng. Sưu tầm và biên soạn từ nguồn: Cây thuốc An Giang của Võ Văn Chi, Ủy ban khoa học và kỹ thuật An Giang, 1991, tr.102.

Ảnh nhận dạng

Ảnh nhận dạng 1
Ảnh nhận dạng 2

Video

Cá sấu thương phẩm

Thống kê cây dược liệu

Theo loạiTheo tình trạng bảo tồn
  • - Sách đỏ: 16
  • - Quí hiếm & đặc hữu: 55
  • - Thông thường: 221
  • - Tuyệt chủng (EX): 13
  • - Rất nguy cấp (CR): 21
  • - Nguy cấp (EN): 24
  • - Sẽ nguy cấp (VU): 13
  • - Không đánh giá (NE): 210
  • - Ít nguy cấp (LR): 11
Tổng cây dược liệu: 292

.:: Tổng số truy cập ::.