Bảo tồn thiên nhiên » Động vật » Chi tiết bảo tồn thiên nhiên

Tên việt nam: Bằng lăng nước

Tên khoa học: Lagertroemia speciosa (L) Pers.,1806

Tên đồng nghĩa: Lagertroemia flos – reginae Retz. 1789; L. reginae Roxb. 1795

Cấp bậc sinh giới

Ngành: Thực vật

Bộ: Myrtales (tên khoa hoc là Myrtales)

Họ: Lythraceae (tên khoa hoc là Lagertroemia speciosa)

Thông tin cơ bản cây:

Địa chỉ: Thành phố Long Xuyên, An Giang, Việt Nam

Năm trồng: 1801

Tọa độ GPS: 10.71895,105.33977

Ngày công nhận: Chưa được công nhận là cây di sản.

Thông tin chi tiết của cây:

Ngày ghi nhận: 06/07/2011
Chiều cao vút ngọn (m): 8
Chiều cao phân cành (m): 2
Chu vi (m): 4
Sắc mộc:
Tình trạng: Tốt
Loại đe dọa: Không đe dọa

Danh sách chủ đã sở hữu cây cổ thụ này:

1. Miếu Bà Thiên Y - Ngày tiếp nhận: 06/07/2011

Đặc điểm nhận dạng:

Đặc điểm hình thái:
 
Cây gỗ trung bình, rụng lá, cao 12-18m, đường kính 20-40cm. Tán hình trứng rộng, dầy, xanh thẫm. Thân không thật thẳng, phân cành sớm, cành mọc ngang với rất nhiều cành nhỏ mang lá. Vỏ nâu xám, ít nứt, thịt vỏ mỏng màu vàng nhạt, dày 1-1,2cm, Cành nhẵn, màu xanh. 
Lá đơn, nguyên, mọc cách hay gần đối, không lá kèm, hình trứng rộng hay bầu dục, dài 10-18cm, rộng 6-12cm; phiến dai, dày, khi non màu xanh nhạt, khi già màu đỏ.
 
Đặc điểm sinh thái:
 
Ở Việt Nam bằng lăng nước là loài cây phân bố trong các kiểu rừng nửa rụng lá và rừng khô rụng lá cùng với loài bằng lăng vỏ nhẵn (Lagertroemia calyculata), nhưng không phổ biến, vì bằng lăng nước đòi hỏi đất sâu. dày và ẩm hơn. Cây có biên độ sinh thái rộng; thường gặp mọc ven bờ sông suối, hồ và đầm nước ngọt, thường phân bố ven các rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh của các khu rừng nêu trên. Độ cao phân bố của bàng lang nước không quá 700m trên mặt biển, thường mọc trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên sa thạch hoặc phiến thạch sét, ở vùng có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa và nắng rõ rệt. Thường mọc xen với các loài cây rụng lá khác như: bằng lăng ổi, chiêu liêu đen, dầu song nàng, gáo lá tim…
 
Cụm hoa chùm, mọc ở đỉnh cành, hình tháp, mang nhiều hoa, Nụ hoa hình cầu, màu tím hồng. Lá đài 6 hợp thành ống với 6 dải lồi và 6 rãnh nông. Cánh hoa 6, nhăn nheo trong nụ và khi mới nở, màu đỏ tím hay tím hồng, có cựa ngắn. Nhị đực nhiều, đính ở giữa ống đài; ô phấn có trung đới tròn; bầu 6 ô.
 
Quả  nang, hình  trứng,  kích  thước 20x18mm, nằm trong đài tồn tại, mở theo 6 mảnh, tồn tại rất lâu trên cây. Hạt có cánh mềm. Cây rụng lá vào đầu mùa đông, ra lá non tháng 3,4. 
Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả từ tháng 8 tháng 10.
 
Bằng lăng (Lagertroemia L.) là một chi lớn của họ Tử Vi. Riêng ở Việt Nam đã thống kê được trên 20 loài thuộc chi này. Do có hoa to đẹp, với nhiều màu sắc, nên nhiều loài thuộc chi bằng lăng đã được sử dụng làm cảnh từ lâu đời. Gần đây các nhà chơi cảnh có đưa thêm một số loài thuộc chi Bằng Lăng (Lagertroemia) vào trồng ở các thành phố lớn làm cây cảnh và cây bóng mát như:
 
1/ Tường vi / Tử vi tàu (L. indica Linn. hay L. chinensis Lam.). Cây bụi hay gỗ nhỏ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Lá nhỏ dài 3-3,5cm. Hoa màu tím hay tím hồng, cánh hoa có móng dài, phiến mảnh, nhăn nheo, rất đẹp. Hoa nở vào mùa hè thu.
 
2/ Bằng lăng tím / Bàng lang tiên (L. regia Roxb.). Cây gỗ, cao 10m, hoa màu tím.
 
3/ Bằng lăng xoan (L. ovalifolia Teijm& Binn.). Cây gỗ to, cao tới 30m, hoa tím.
 
4/ Bằng lăng trung (L. lecomtei Gagn.) Cây từ vùng núi đá và rừng còi vùng Phan Rang, miền Trung, có gốc xù xì, lá nhỏ 6x3cm, hoa lớn màu hồng tím đậm rất đẹp để làm bonsai và cây cảnh.
 
Phân bố:
 
Việt Nam: Bằng lăng nước mọc hoang dại ở các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ như: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế; vùng Tây Nguyên như: KonTum, Gia Lai, Đắk Lắk và vùng Đông Nam Bộ: Đồng Nai, Bình Phước. Hiện nay được trồng ở hầu hết các thành phố và thị xã của các tỉnh ở Việt Nam.
 
Thế giới: Bằng lăng nước phân bố ở các nước vùng Nam và Đông Nam Á như: Myanmar, Malaysia, Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Philippine. Ở Nam Trung Quốc và Australia cũng gặp loài này.
 
Giá trị: 
 
Cây có dáng đẹp: thân xù xì, ít thẳng, cành nhiều gần như nằm ngang làm cho tán cây có nhiều tầng; lá lớn màu xanh đậm, khi già chuyển màu đỏ hay tím, mùa đông rụng lá, đầu xuân ra lá non xanh biếc hay nâu hồng; hoa đẹp rực rỡ, màu tím hồng, có thể biến màu (buổi sáng màu hồng, buổi chiều chuyển sang màu tím), rất hấp dẫn, lại nở vào dịp đầu hè, lúc nhiều cây đường phố khác đã tàn nên được nhiều người ưa thích và đã được trồng trong công viên, trong vườn nhà, vườn công sở. Bằng lăng nước lại có chiều cao trung bình, không vượt quá tầm cao của dây điện nên thường được chọn làm cây bóng mát và cây cảnh trồng ven đường ở các khu phố có nhà xây thấp tầng, trong các đô thị, thị trấn và thị xã. Sau khi trồng 4 năm, cây đã bắt đầu ra hoa. Các kiến trúc sư đô thị thường sử dụng cây bàng lăng cùng với một số cây hoa và bóng mát khác để tạo nên nhưng cảnh quan vui mắt ở các đường phố, các vườn hoa, công viên hoặc nhiều nơi khác trong đô thị. Quả bằng lăng nước kết thành chùm, không ăn được, không hấp dẫn ruồi nhặng; khi khô quả mở ra cho hạt rụng xuống, còn quả vẫn tồn tại lâu trên cây với màu nâu đen. Đây là một nhược điểm của cây, nên khi thu hoạch hạt cần hái toàn bộ quả trên cây.
 
Cây mọc khỏe, nẩy chồi mạnh nên có thể xén tỉa dễ dàng và rất thích hợp trồng làm cây bonsai, cây thế. Bàng lang nước cũng được trồng làm gốc ghép để ghép các chồi cây có hoa đẹp khác thuộc chi Bằng lăng (Lagertroemia).
 
Hoa chứa tinh dầu có mùi thơm dịu nên có thể dùng chế nước hoa.
 
Cây cho gỗ kích thước trung bình, thường không thẳng, nhưng cứng và bền, tỷ trọng 0,5-0,8 dùng làm cột, các dụng cụ thông thường, đồ gỗ, khung cửa. Cũng dùng làm nguyên liệu cho công nghệ bột giấy.
 
Tình hình bảo tồn tại An Giang:
 
Bằng lăng nước là loài cây bản địa. Đây còn là một loài cây cảnh và cây bóng mát quí và đẹp được trồng ở nhiều đường phố trong tỉnh. Ngoài giá trị hoa đẹp, bằng lăng nước lại là cây chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khả năng chống gió bão tốt; Có thể phát triển trồng rộng rãi ở các khu đô thị, khu dân cư và trong các công viên. Cũng có thể chọn làm cây trồng chống gió bảo ở các rừng bảo vệ đô thị, bảo vệ đầu nguồn.
 
Tại An Giang có 02 cây Bằng lăng nước tại Miếu bà Thiên Y ở chợ Vàm, huyện Phú Tân đã được đưa vào danh sách bảo tồn từ năm 2011.
 
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng:
 
Hạt giống. Hạt có cánh, màu nâu nhạt, hơi cứng, thường bị bất thụ. Hạt nhẹ, khoảng
200.000 hạt/kg. Có thể cất trữ ở điều kiện không khí bình thường trong 2 năm. Do hạt nhẹ, kích thước rất nhỏ nên việc gieo thẳng thường ít áp dụng mà chỉ áp dụng việc gieo ươm.
 
Gieo ươm. Tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp, thường chỉ 30-40%. Hạt nảy mầm sau khi gieo khoảng 12 ngày. Cần phải che bóng nhẹ và tưới thường xuyên trong giai đoạn vườn ươm.
 
Cũng thường trồng bằng stump (với đoạn chồi có chiều dài 5-10cm), bằng hom rễ dài 10-
20cm, đường kính cổ rễ 0,5-2cm.
 
Kỹ thuật trồng. Trồng trong công viên, đường phố phải để cây con ở vườn ươm trong thời gian 2 năm đến 2 năm rưỡi hoặc 3 năm, khi cây đạt chiều cao trên 2m mới có thể đem trồng.
 
Nếu trồng nơi quang trống, thân thường bị cong, vì vậy trong trồng rừng cần trồng mật độ dầy 2,5x1m, sau tỉa tưa dần. Có thể trồng với các cây ưa sáng khác. Trong trồng rừng có thể trồng xen với giáng hương, bản xe, xoan và một số cây họ đậu khác. Cây chịu khô kém, nên phải trồng trên đất đủ ẩm.
 
Tăng trưởng. Cây tăng trưởng chậm, đặc biệt trong năm đầu tiên, thường chỉ đạt chiều cao
2-3m khi cây 1 tuổi. Sau đó tăng dần, cây 3 tuổi đạt chiều cao 3m.
 
Sâu bệnh. Quả thưòng bị sâu cánh cứng (Ctenomones lagertroemiae) và sâu sén tóc (Pyraldae) phá hoại. Trong giai đoạn vườn ươm cũng dễ bị côn trùng thuộc nhóm Chrysomelidae phá hại.
 
Bành Thanh Hùng, sưu tầm và biên soạn từ nhiều nguồn, 

Bản đồ vị trí

Bản đồ vi trí
Vĩ độ: 10.71895
Kinh độ: 105.33977

.:: Tổng số truy cập ::.