10 năm thực hiện chương trinh Heifer

Heifer Việt Nam trực thuộc tổ chức Heifer Quốc tế, được thành lập vào năm 1987. Lúc đầu, Heifer hợp tác với Khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Cần Thơ để tăng cường, cải tiến công tác chăn nuôi ở địa phương. Từ năm 1992 đến 2003, Heifer đã triển khai các dự án nuôi heo, gia cầm, dê và bò ở 24 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng, miền trung, đông nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2007 Heifer Việt Nam áp dụng mô hình phát triển cộng đồng toàn diện và 12 Điều cơ bản vào dự án. Đối tượng cần sự giúp đỡ của Heifer là người nghèo, thanh niên, nạn nhân chất độc da cam, bệnh nhân HIV/AIDS, dân tộc thiểu số và những người mắc các tệ nạn xã hội như rượu, ma túy, cờ bạc…. Các đối tượng trên được Heifer giúp đỡ, hỗ trợ để phát triển nguồn lực bền vững và lâu dài thông qua sản xuất chăn nuôi, trồng trọt để đạt được thu nhập bền vững và đảm bảo vấn đề an ninh lương thực. Cộng đồng Heifer đã nhận thức và quan tâm đến vấn đề môi trường. Cộng đồng còn được học và tăng cường năng lực để cùng nhau xây dựng một cuộc sống công bằng, kinh tế bền vững và ổn định.

Heifer Việt Nam thực hiện các dự án phát triển cộng đồng hoàn toàn phù hợp với các chính sách của Nhà nước Việt Nam và các chương trình xóa đói giảm nghèo. Phương pháp và mô hình của Heifer đã được sự ủng hộ và áp dụng tích cực của chính quyền các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, Heifer có dự án rộng khắp 27 tỉnh thành trên cả nước, giúp đỡ, cung cấp các nguồn lực và huấn luyện cho khoảng 9,460 hộ gia đình.

Văn phòng dự án Heifer Việt Nam đặt tại TP. Cần Thơ và có đầy đủ cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, đội ngũ nhân viên trẻ gồm 21 người có trình độ, chuyên môn và nhiệt huyết. Văn phòng được trang bị đủ các phương tiện phục vụ cho liên hệ công việc cả trong và ngoài nước . Chính sách và thủ tục hành chính chặt chẽ đảm bảo quản lý dự án có hiệu quả và minh bạch.

Heifer đến với Kiểm lâm An Giang từ năm 2003, thông qua chương trình hợp tác đối ứng xây dựng mô hình chăn nuôi Bò tại huyện Tịnh Biên, tổng vốn thực hiện là 60 triệu đồng, sau 10 năm thực hiện đã luân chuyển được 06 lần cho 06 hộ, hiện còn 05 hộ nuôi 05 con, nguyên nhân giảm do chết vì bệnh. Đến năm 2004, tiếp tục xây dựng mô hình trồng cây Điều năng suất cao. Tổng số hộ đề nghị được nhận đầu tư là : 20 hộ, mỗi hộ xin đăng ký trồng 200 cây, tổng số cây trồng là 4.000 cây. Nhưng thực cấp là 2.000 cây. Đến năm 2009, điều tra khảo sát thực tế tỉ lệ cây hiện còn đạt bình quân 37,20 % trên tổng số cây phát ra = 744/2.000 cây. Nguyên nhân do giao cây trể so với vụ trồng vùng núi, cho nên đa số bị thiệt hại ngay năm đàu tiên. Trong đó có:
  + 08 hộ còn cây đạt từ 50 – 90 cây.
  + 08 hộ còn cây đạt từ 14 – 41 cây.
  + 02 hộ ở ngưởng mất trắng ( còn 2 và 5 cây ).
  + 02 hộ mất trắng.
Tình hình tăng trưởng số cây hiện còn tốt. Năm 2006 đã ra hoa kết trái đợt đầu. Năm 2008 sản lượng thu hoạch đạt từ 1kg – 2kg  hạt/cây. Ngoài những hộ đã mất trắng hoặc còn vài cây, Hạt đã tiến hành lập biên bản thanh lý.

Mười năm triển khai xây dựng và duy trì thực hiện các mô hình để đạt hiệu quả là việc làm cực kỳ khó khăn, nếu không chịu khó và không có cái tâm trong nghề nghiệp. Hy vọng rằng trong thời gian tới sẽ tiếp tục bảo vệ và duy trì vốn hiện còn nhằm góp phần tạo thêm thu nhập cho chủ rừng để bảo vệ rừng bền vững hơn.

Chủ mô hình. Bành Thanh Hùng.

Những hình ảnh về giao nhận Bò và cây điều năng suất cao

Tra cứu Động vật - Thực vật

Ứng dụng cung cấp thông tin chi tiết từng loài về dược liệu, động vật, thực vật, cổ thụ.

.:: Tổng số truy cập ::.