Bảo tồn thiên nhiên » Động vật » Chi tiết loài

Tên việt nam: Thiên Niên Kiện

Tên khoa học: Homalonema occulta (Lour.) Schot.

Tên đồng nghĩa: Sơn thục, Ráy hương, Thần phục.

Cấp bậc sinh giới

Ngành: Thực vật

Bộ: Trạch Tả (tên khoa học là Alismatales)

Họ: RÁY (MÔN) (tên khoa học là ARACEAE)

Chi: Homalomena Schott, 1832 (tên khoa học là Homalomena Schott, 1832)

Thuộc: Quí hiếm & đặc hữu

Tình trạng bảo tồn: Không dánh giá (NE)

Công dụng: Thấp khớp, đau nhức khớp, tê thấp

Đặc điểm nhận dạng:

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm nhờ thân rễ mập, bò dài, thơm, khi bẻ ngang có xơ như kim. Lá mọc từ thân rễ, phiến lá sáng bóng, dài tới 30cm, có 3 cặp gân gốc, 7-9 cặp gân phụ. Cụm hoa là những bông mo, có mo màu xanh, dài 4-6cm, không rụng ; buồng 3-4cm, ngắn hơn mo; bầu chứa nhiều noãn. Quả mọng thuôn, chứa nhiều hạt có rạch.

Bộ phận dùng: Thân rễ, lá.

Phân bố, sinh thái: Cây của miền Mã Lai Châu Đại Dương, mọc hoang ở rừng, nơi ẩm ướt cạnh suối hay dọc theo suối các triền núi cấm, núi Dài. Cũng được trồng để làm thuốc. Trồng bằng thân rễ. Thu hái thân rễ già, rửa sạch, chặt thành từng đoạn ngắn 10-20cm, sấy nhanh ở nhiệt độ dưới 50°C cho khô đều mặt ngoài rồi làm sạch vỏ, nhặt bỏ các rễ con, sau đó đem phơi hay sấy khô.

Tính chất và tác dụng: Trong thân rễ có khoảng 0,8-1% tinh dầu tính theo rễ khô kiệt. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu. Trong tinh dầu có chừng 40% 1- linalol, một ít tecpineola và chừng 2% este tính theo linalyl axetat. Ngoài ra còn có Sabinen, limonen, anpha-tecpinen, axetandehyt, andehyt propionic.

Thiên niên kiện có vị cay, đắng, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng trừ phong thấp, mạnh gân xương.

Công dụng: Thường dùng chữa phong hàn thấp nhức mỏi các gân xương, hoặc co quắp tê bại. Trong nhân dân, thiên niên kiện thường được dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức, đau khớp xương, đau dạ dày, làm thuốc kích thích tiêu hóa. Còn dùng trị đau bụng kinh, trừ sâu nhậy.

Thiên niên kiện còn là nguyên liệu chế tinh dầu dùng làm hương liệu, và là nguồn nguyên liệu chiết linalola.

Cách dùng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu uống. Thường phối họp với cỏ xước, Thổ phục linh, Độc lực để trị tê thấp, nhức mỏi. Cũng dùng tươi giã ngâm rượu xoa bóp chỗ đau nhức, tê bại và phong thấp. Để trị đau bụng kinh, thường phối họp vói rễ Bưởi bung, rễ Bướm bạc, gỗ Vang, rễ Sim rừng cùng sắc uống. Để trừ sâu nhậy, dùng thân rễ khô tán bột rắc.

Lá tươi giã với ít muối đắp chữa nhọt độc.

Chú ý : Người âm hư nội nhiệt, táo bón, nhức đầu không nên dùng.

Tình trạng khai thác và bảo vệ tại An Giang: Có trên vùng núi của tỉnh. Khuyến khích gây trồng. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn các tổ Đông Y gây trồng vừa sử dụng vừa để bảo tồn nguồn gen cây thuốc vùng bảy núi.

 

Thsỹ. Bành Lê Quốc An.

Sưu tầm từ nguồn: Cây thuốc An Giang của  Võ Văn Chi, Ủy ban khoa học và kỹ thuật An Giang, 1991, tr. 515.

Ảnh nhận dạng

Ảnh nhận dạng 1

Bản đồ vị trí

Bản đồ nhận dạng 1
Vĩ độ: 10.507138
Kinh độ: 104.986167

Video

Cá sấu thương phẩm

Thống kê cây dược liệu

Theo loạiTheo tình trạng bảo tồn
  • - Sách đỏ: 16
  • - Quí hiếm & đặc hữu: 55
  • - Thông thường: 221
  • - Tuyệt chủng (EX): 13
  • - Rất nguy cấp (CR): 21
  • - Nguy cấp (EN): 24
  • - Sẽ nguy cấp (VU): 13
  • - Không đánh giá (NE): 210
  • - Ít nguy cấp (LR): 11
Tổng cây dược liệu: 292

.:: Tổng số truy cập ::.