Bảo tồn thiên nhiên » Động vật » Chi tiết loài

Tên việt nam: Cỏ tranh

Tên khoa học: Imperata cylindrica (L.) P. Beauv. var. cylindrica

Tên đồng nghĩa: ngoài Alang-grass, Alang-alang, Bedding grass (Anh), Herbe à paillote

Cấp bậc sinh giới

Ngành: Ngọc Lan (tên khoa học là Magnoliophyta)

Lớp: Một lá mầm (tên khoa học là Liliopsida)

Bộ: Lúa (tên khoa học là Poales)

Họ: Lúa (tên khoa học là Poaceae)

Chi: Imperata Cirillo (tên khoa học là Imperata Cirillo)

Thuộc: Thông thường

Tình trạng bảo tồn: Không dánh giá (NE)

Công dụng: Lợi tiểu, Thông mật, viêm đường tiết niệu

Độ cao: 1-550

Đặc điểm nhận dạng:

 

Tên khác Cây cỏ săng,Cỏ tranh săng, Bạch mao căn, Nhả cà, Lạc cà (Tày), Gan (Dao), Día (K’Dong)

Mô tả: Cỏ Bống lâu năm, cao 30-90cm. Thân rễ mọc bò lan dài và nằm sâu dưới đất thường hình tru, dài 30-40cm, đường kính 2-4mm, măt ngoài màu trắng ngà hay vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc và nhiều đốt mang các lá vảy và rễ con. Lá mọc thẳng đứng, hẹp, dài 15-30cm, rộng 3-6mm, mặt trên ráp, mặt dưói nhẵn, mép lá sắc. Cụm hoa hình chùy, dài 8-20cm, có nhiều bông nhỏ, phủ đầy lông mềm và dài màu trắng.

Bộ phận dùng: Thân rễ, hoa.

Phân bố, sinh thái: Loài liên nhiệt đới, mọc hoang trên các đồi khô trống trải và phát tán ra đến đồng bằng. Cây rất khó diệt vì rễ ngầm sống rất dai. Có thể thu hái thân rề (Bạch mao căn) quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô.

Tính chắt và tác dụng: Thân rễ chứa các chất đường (glucoza, fructoza) và một số axit hữu cơ. Thân rễ có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, chỉ huyết, mát huyết. Hoa có vị nhạt, tính mát, có tác dụng cầm máu.

Công dụng: Thường dùng trị sốt nóng khát nước:, sốt vàng da mật (hoàng dàn), tiểu tiện ít, đái buốt, đái rắt, đi tiểu ra máu, ho thỗ huyết, chảy máu cam. Hoa trị nôn ra máu. Ờ Trung Quốc, còn dùng trị cao huyết áp.

Rễ cỏ tranh được sứ dụng làm thuốc nhuận tiểu trong Toa căn bản, rất thường dùng trong diều trị.

Cách dùng: Ngày dùng 12-40g thân rễ, 2-4g hoa, dưới dạng thuốc sắc. Dùng rễ cỏ tranh với mía nấu thành nước có tác dụng thanh lương, trừ thấp, giải độc. Nếu sao vàng sắc uống trị được chứng đau lậu vì nó thông tiểu tiện, lợi mồ hôi, giải dộc. Dùng nấu nước tắm cho trẻ em bị ghẻ lở. Phối hợp với gừng sao cháy đen (thán khương) sắc uống chữa đái ra máu. Dùng hoa sắc nước uống làm thuốc chỉ huyết. Hoa có thể dùng thay bông vài đắp cầm máu vì bông của nó cũng mềm như bông gòn.

Đơn thuốc :

- Viêm thận cấp : Rễ cỏ tranh tươi 60-120g sắc nước uống. Chia ra 2-3 lần uống trong ngày.

- Chảy máu cam : Đun sôi 30g cây trong nước và uống khi nguội. Hoặc phối hợp với 15g rễ sen sắc uống.

Tình trạng khai thác và bảo vệ tại An Giang: Hiện nay loài cây này đã thu hẹp quần thể trên vùng núi. Không đánh giá.

Bành Thanh Hùng. Sưu tầm và biên soạn từ nguồn: Cây thuốc An Giang của Võ Văn Chi, Ủy ban khoa học và kỹ thuật An Giang, 1991, tr.151.

 

Ảnh nhận dạng

Ảnh nhận dạng 1
Ảnh nhận dạng 2

Thống kê cây dược liệu

Theo loạiTheo tình trạng bảo tồn
  • - Sách đỏ: 16
  • - Quí hiếm & đặc hữu: 55
  • - Thông thường: 221
  • - Tuyện chủng (EX): 13
  • - Rất nguy cấp (CR): 21
  • - Nguy cấp (EN): 24
  • - Sẽ nguy cấp (VU): 13
  • - Không đánh giá (NE): 210
  • - Ít nguy cấp (LR): 11
Tổng cây dược liệu: 292

.:: Tổng số truy cập ::.