Bảo tồn thiên nhiên » Động vật » Chi tiết loài

Tên việt nam: Cá lóc bông (Tên tiếng Anh: Giant snakehead)

Tên khoa học: Channa micropeltes Cuvier, 1831

Cấp bậc sinh giới

Ngành: Loài Cá (tên khoa học là Chordata)

Bộ: Cá Tai Tượng (Perciformes (tên khoa học là Perciformes)

Họ: Cá Lóc (Channidae) (tên khoa học là Channidae)

Thuộc: Thông thường

Tình trạng bảo tồn: Không dánh giá (NE)

Đặc điểm nhận dạng:

Địa điểm thu mẫu: Mẫu cá được thu tại ao nuôi thuộc tỉnh  An Giang.


Kích thước: Kích thước cá tối đa đạt đến 90cm nhưng ít gặp, cỡ thường gặp 20 – 50cm. Trọng lượng đạt tới 20kg.


Phân bố: Cá sống trong hầu hết có loại hình thủy vực nước ngọt. Vùng phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Philippin, Sri lanka và Indonesia.
Tuy nhiên hiện nay, sản lượng cá lóc bông chủ yếu được khai thác qua nuôi trồng.


Đặc điểm sinh học: Cá có thân tròn, dài, đuôi dẹp bên, đỉnh đầu bằng và rộng, mõm hơi tròn. Trên lưng màu nâu đen hoặc xanh sậm, có hai dải sọc đậm dọc thân. Cá lóc bông là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá lóc, kích thước tối đa trên 1m và nặng trên 20kg. Do có cơ quan hô hấp phụ nên cá có thể sống một thời gian dài trong điều kiện ẩm ướt và có thể nuôi với mật độ khá cao.


Cấu tạo ống tiêu hóa của cá cho thấy cá lóc bông là loài cá ăn thịt: có răng phát triển, có dạ dày to hình chữ Y, vách dày, túi mật phát triển, ruột to và ngắn. Theo kết quả nghiên cứu của Dương Nhật Long và ctv. (Đại học Cần Thơ), trong điều kiện sống tự nhiên, phổ dinh dưỡng của cá lóc bông trưởng thành chủ yếu là thức ăn động vật: 63,01% là cá, 35,94% tép, 1,03% ếch nhái, 0,02% bọ gạo và mùn bã hữu cơ.


Giai đoạn mới nở, ấu trùng cá sử dụng noãn hoàng 3-4 ngày. sau đó, cá bắt mồi xung quanh như các loài phù du động vật (luân trùng, giáp xác…). Sau 1 tháng tuổi cá đã có thể rượt bắt mồi nhỏ như tép và các loại cá con khác.


Giai đoạn nhỏ, cá tăng trưởng nhanh về chiều dài. Từ giai đoạn 3 tháng tuổi trở đi tăng trưởng về trọng lượng nhanh hơn. Phương trình tương quan chiều dài và trọng lượng cá lóc bông ở các giai đoạn phát triển như sau (Dương Nhật Long và ctv.): P=0,008505 L3,007121 (trong đó P: trọng lượng cá, L: chiều dài thân cá).


Trong điều kiện tự nhiên do tranh thức ăn nên cá lớn không đều và tỷ lệ hao hụt cao. Trong điều kiện nuôi, cá có thể đạt 1-1,5 kg/con/năm. Cá thành thục vào 23 - 24 tháng tuổi. Mùa vụ phát dục và sinh sản kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung vào tháng 6-7 dương lịch.


Cá đẻ tái phát dục 3-4 lần trong năm. Lượng trứng có thể đạt từ 7.000-15.000 trứng. Cá đực, cái ghép cặp và đẻ trứng trong tổ và bảo vệ tổ trứng rất kỹ, cho đến khi cá con đã có thể sống độc lập và chủ động bắt mồi.


Giá trị kinh tế: Phần lớn sản lượng cá được cung cấp từ nguồn nuôi trồng, kích thước lớn, thịt ngon, được nhiều người ưu chuộng, có giá trị xuất khẩu, có giá trị kinh tế cao.


Khai thác: Ngư cụ được dùng khai thác: câu, lưới.


Mùa vụ khai thác: Quanh năm.


Hiện trạng nghiên cứu và phát triển: Cá là đối tượng nuôi bè phổ biến ở một số tỉnh nước ngọt ở ĐBSCL và các hồ lớn miền Đông Nam Bộ.

 

 Khu sinh cảnh rừng Tràm Trà Sư:    Loài cá Lóc Bông có sau mùa nước nổi hàng năm.

 

 

Bành Thanh Hùng,

Nguồn: Điều tra, nghiên cứu về sự hiện diện của các loài thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh An Giang, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, Tp Hồ Chí Minh 4/2007.

Thống kê cây dược liệu

Theo loạiTheo tình trạng bảo tồn
  • - Sách đỏ: 16
  • - Quí hiếm & đặc hữu: 55
  • - Thông thường: 221
  • - Tuyện chủng (EX): 13
  • - Rất nguy cấp (CR): 21
  • - Nguy cấp (EN): 24
  • - Sẽ nguy cấp (VU): 13
  • - Không đánh giá (NE): 210
  • - Ít nguy cấp (LR): 11
Tổng cây dược liệu: 292

.:: Tổng số truy cập ::.